Bàn tay là gì ? 1 - Bàn tay giúp sự nhận xét bịnh tật .
2 - Bàn tay giúp sự xét đoán tâm lý cá nhân.
3 - Bàn tay giúp sự tiên đoán những điều nguy hại, cũng như thuận lợi cho người .
Hai bàn tay mặt và trái được chia thành 2 địa hạt rõ rệt: tinh thần hay thiên định được ghi ở bàn tay trái; vật chất hay nhân lực được ghi trong bàn tay mặt .
Sự mâu thuẫn giữa bàn tay nam và nữđược chứng minh qua những nguyên nhân sau:
1 - Khuôn khổ: với 1 mẫu bàn tay, chẳng hạn như vuông, dài, tròn, bầu, nhọn, mũi viết ... giá trị sẽ khác nhau nếu không nói là trái ngược nhau giữabàn tay nam và nữ .
Thí dụ: 1 bàn tay mũi viết ở người bạn gái, đó là hình thức bàn tay gặp nhiều may mắn trong bất cứ trường hợp nào: tiền, tình, cũng như danh vọng . Ngược lại cũng bàn tay mũi viết ấy ở người bạn trai, giá trị lại như sau: giàu tưởng tượng, thiếu thứctế, do dự, đôi khi trở thành khiếp nhược, bỏ lỡ cơ hội vì nữ tánh của mình .
2 - Hình thức: 1 bàn tay mập và dày
Ở người bạn trai sẽ nói lên sự may mắn và thành công về phương diện vật chất, sự nghiệp .
Ở người bạn gái, nhiều dâm tính, lúc nào cũng tìm cách thoả màn nhục dục, do đó có thể là bàn tay của người bạn sa đoạ .
3 - Màu sắc: màu trắng
Ở bàn tay người nữ là bàn tay thắng lợi về mọi phương diện .
Ở bạn trai thì ít được may mắn, đó làmẫu bàn tay của người háo ăn, ham chưng diện, thích xa hoa, nhưng kém bình tĩnh và thản nhiên trước sự khốnkhổ của người khác .
Những nét đại cương trong bàn tay bạn gái
Lưu ý: một đường chỉ, một ấn tượng trong bàn tay không đáng kể, mà trọnbàn tay mới đáng kể .
Đường Chánh: 1 - Bàn tay giúp sự nhận xét bịnh tật .
2 - Bàn tay giúp sự xét đoán tâm lý cá nhân.
3 - Bàn tay giúp sự tiên đoán những điều nguy hại, cũng như thuận lợi cho người .
Hai bàn tay mặt và trái được chia thành 2 địa hạt rõ rệt: tinh thần hay thiên định được ghi ở bàn tay trái; vật chất hay nhân lực được ghi trong bàn tay mặt .
Sự mâu thuẫn giữa bàn tay nam và nữđược chứng minh qua những nguyên nhân sau:
1 - Khuôn khổ: với 1 mẫu bàn tay, chẳng hạn như vuông, dài, tròn, bầu, nhọn, mũi viết ... giá trị sẽ khác nhau nếu không nói là trái ngược nhau giữabàn tay nam và nữ .
Thí dụ: 1 bàn tay mũi viết ở người bạn gái, đó là hình thức bàn tay gặp nhiều may mắn trong bất cứ trường hợp nào: tiền, tình, cũng như danh vọng . Ngược lại cũng bàn tay mũi viết ấy ở người bạn trai, giá trị lại như sau: giàu tưởng tượng, thiếu thứctế, do dự, đôi khi trở thành khiếp nhược, bỏ lỡ cơ hội vì nữ tánh của mình .
2 - Hình thức: 1 bàn tay mập và dày
Ở người bạn trai sẽ nói lên sự may mắn và thành công về phương diện vật chất, sự nghiệp .
Ở người bạn gái, nhiều dâm tính, lúc nào cũng tìm cách thoả màn nhục dục, do đó có thể là bàn tay của người bạn sa đoạ .
3 - Màu sắc: màu trắng
Ở bàn tay người nữ là bàn tay thắng lợi về mọi phương diện .
Ở bạn trai thì ít được may mắn, đó làmẫu bàn tay của người háo ăn, ham chưng diện, thích xa hoa, nhưng kém bình tĩnh và thản nhiên trước sự khốnkhổ của người khác .
Những nét đại cương trong bàn tay bạn gái
Lưu ý: một đường chỉ, một ấn tượng trong bàn tay không đáng kể, mà trọnbàn tay mới đáng kể .
Đường Chánh: - Có 6 đường chánh trong bàn tay, không luận nam nữ .
1 - Đường Sanh Đạo: bắt nguồn từ khoảng giữa 2 ngón cái và ngón trỏ, bọc vòng theo thân dưới ngón cái chạy như 1 hình vòng cung xuống cườm tay.
2 - Đường Trí Đạo: bắt nguồn từ 1 chỗ với đường Sanh Đạo, hoặc dính liền với đường này, hoặc phát nguồn rời ra và chảy về rìa bàn tay hoặc lên trên hoặc xuống dưới, nghĩa là đổ vào các gò nằm cận rìa bàn tay.
3 - Đường Tâm Đạo: phát nguồn từ rìa bàn tay, dưới ngón út chảy vào lòng bàn tay hoặc chấm dứt thật xa dưới ngón trỏ, hoặc chấm dứt lưng chừng dưới ngón giữa, dưới ngón áp út . Cũng có những đường Tâm Đạo quá ngắn, vừa phát ra là chấm dứt ngay tại thân dưới ngón út . Đây là 1 điểm cần đặc biệt để ý, vì rất dễ nhậnđịnh lầm với đường Hôn Nhân.
4 - Đường Định Mạng: nằm giữa ở thân giữa lòng bàn tay, phát nguồn từ cườm tay, hoặc ở lưng chừng khoảng trên cườm tay, hoặc ở lưng chừng khoảng trên cườm tay chảy đứng lên và chấm dứt ở nhiều nơi, thường thì đường này hay chấm dứt chỗ đụng nhằm đường Trí Đạo, dài hơn 1 chút là chấm dứt chỗ đụng nhằm đường Tâm Đạo .
5 - Đường Thái Dương: phát nguồn từlưng chừng bàn tay, gần như không bao giờ ở thân dưới bàn tay, mà từ giữa lòng bàn tay trở lên và chảy vào thân dưới ngón áp út, tức là gò Thái Dương.
6- Đường Trực Giác: luôn luôn nằm ởrìa bàn tay và phát nguồn trong gò Thái Âm thành hình vòng cung, bề cong ở phía lòng bàn tay, chảy lên gò Thủy Tinh tức gò nằm dưới ngón út và chấm dứt nơi đây.
Đường Phụ:
1 - Vòng Kim Tinh: là 1 đường cong, nằm vắt ngang dưới 2 ngón giữa và ápút, hoặc dài hơn từ cạnh ngón trỏ đếnthân dưới ngón út . Đường cong này có nhiều hình thức: cong như vòng cung, cong 1 đầu, thẳng 1 đầu hoặc 1đường cong dài và 1 đường cong ngắnđi cặp ở khoảng đầu hay ở khoảng cuối . Cũng có những vòng Kim Tinh gần như ngay và bị cắt đứt nhiều khoảng, hoặc gồm những chỉ tay nhỏ vấn vào nhau như sợi nhợ se lại . Chiều cong của vòng Kim Tinh luôn nằm về phía dưới, gần như hình 1 lưỡiliềm, có 2 đầu vấn vào nhau như sợi nhợ se lại 2- Đường Xà Ngang (đường Xuyên): là những đường nhỏ, đa số là ngắn và thường phát nguồn từ gò Kim Tinh xuyên ngang đường Sanh Đạo, qua đường Trí Đạo . Vượt thẳng thêm lênđường Tâm Đạo, đường xuyên được xem là dài . Đường Sà luônc ó 1 chiều cong ở thân dưới, chiều này luôn luôn hướng về phía ngón cái, đầuphát nguồn từ gò Kim Tinh hay đồng Hoả Tinh.
3 - Đường Hôn Nhân: là những đường nhỏ, luôn luôn là ngắn, dài nhất trong đường Hôn Nhân là 1 đường chấm đến khu vực giao liên giữa 2 ngón út và áp út .
Đường Hôn Nhân luôn luôn đóng thântrên đường Tâm Đạo, và phát nguồn từ rìa bàn tay, hoặc nhiều, hoặc ít, tối đa là 5. Có 3 hình thức: thẳng, cong về phía trên hoặc công xuống phía dưới .
Một hình thức đặc biệt là chỗ cuối đường Hôn Nhân rẽ làm 2 (chỉ xuất hiện ở bàn tay nữ, rất ít ở bàn tay nam).
4 - Đường Hoả Tinh: luôn luôn nằm trong khu vực gò Hoả Tinh và không bao giờ vượt ra ngoài gò này . Phát nguồn từ rìa bàn tay và luôn luôn ngắn nhưng ngay thẳng, ít thấy cong.
5 - Đường Du Lịch: xuất hiện trong gò Thái Âm, vượt vào đồng Hoả Tinh và phát nguồn từ rìa bàn tay . Đường Du Lịch có thể nhiều, đôi khi chỉ có 1và là đường dài hơn hết trong 2 đường Hông Nhân và Hoả Tinh.
6 - Đường Thủy Tinh (Sinh Lực): phát nguồn từ gò Thái Âm, nơi giáp giới giữa gò này và gò Kim Tinh hoặc trong đồng Hoả Tinh . Nằm nghiêng theo rìa bàn tay và lúc nào cũng chảy lên gò Thủy Tinh, ngắn nhứt cũng vừa chấm vào địa phận gò này .
7 - Sau đường Thủy Tinh là ngấn cườm tay. Đó là những đường nằm vắt ngang thân dưới lòng bàn tay, trong khu vực cườm tay. Nó có thể vượt lên khỏi cườm tay và đôi khi cũng rời khỏi bàn tay, lệch về phía dưới . Ngấn cườm tay ít nhất là 1, nhiều nhất là 3, cũng còn gọi là vòng Kỳ Diệu .
8 - Vòng Mộc Tinh: nằm vắt ngang dưới khu vực từ ngón trỏ qua ngón giữa .
9 - Vòng Thủy Tinh: nằm vắt ngang dưới khu vực từ ngón út qua ngón áp út .
10 - Đường Tử Tức: là những đường tí ti nằm lí nhí đứng trên đường Hôn Nhân. Những đường này có thể đóng cao trong khu vực lóng thứ 3 của ngón út . (Là đường duy nhất có giá trị trong bàn tay bạn gái mà vô nghĩ trong bàn tay bạn trai)
Các Gò
1 - Gò Kim Tinh: nằm trọn ở thân dưới ngón cái, và có đường Sanh Đạo bọc vòng theo .
2 - Gò Mộc Tinh: chiếm dưới thân ngón trỏ, dính liền với gò Thổ Tinh vàgiao tiếp với đồng Hoả Tinh.
3 - Gò Hoả Tinh Âm: là 1 khoảng cách rất nhỏ nằm ở gữa 2 gò Kim Tinh và Mộc Tinh.
4 - Gò Thổ Tinh: nằm dưới ngón giữa,giao tiếp với gò Mộc Tinh và dính liềnvới gò kế cận ngón áp út .
5 - Gò (đồng) Hoả Tinh: nằm ở thân dưới gò Thổ Tinh.
6 - Gò Thái Dương: nói theo Gò Thổ Tinh, chiệm trọn thân dưới ngón út .
7 - Gò Hoả Tinh Dương: dọc theo rìa bàn tay, nằm ở lưng chừng .
8 - Gò Thái Âm: tiếp với cườm tay vàgò Kim Tinh.
Các ngón và khu vực khác:
Trong bàn tay, ngoại trừ ngón cái được xem là ngón tượng trưng cho cá tánh của người, hay là ngón chỉ huy, các ngón khác đều có 1 tên của nó chiếu theo ảnh hưởng của hành tinh.
- Ngón trỏ là ngón Mộc Tinh.
- Ngón giữa là ngón Thổ Tinh.
- Ngón áp út là ngón Thái Dương.
- Ngón út là ngón Thủy Tinh.
-Thân dưới ngón út chạy dọc đến cườm tay gọi là rìa bàn tay.
-Khu vực nằm giữa 2 đường Tâm Đạovà Trí Đạo gọi là Hình Bốn Góc .
-Khu vực nằm trong khoảng giao nhaugiữa những đường Sanh Đạo, Trí Đạo và Trực Giác gọi là hình Tam Giác Lớn .
-Góc tiếp giáp của 2 đường Sanh Đạo và Trí Đạo là góc Tối Cao.
-Góc tiếp giáp của 2 đường Trí Đạo và Trực Giác gọi là góc Trung Gian hay Góc Trái . Góc còn lại nơi tiếp giáp giữa 2 đường SAnh Đạo và Trực Giác là Góc Hạ hay Góc Nội, hoặc Góc Mặt .
-Khu vực nằm trong khoảng giao nhaugiữa những đường Trí Đạo, Định Mạngvà Trực Giác gọi là hình tam giác nhỏ. ĐỊNH LUẬT TƯƠNG ĐỐI TRONG VIỆC PHÂN TÁCH BÀN TAY BẠN GÁI
Muốn tìm hiểu giá trị bàn tay cho một người, để xác định cuộc đời của người ấy trên các phương diện: tiền, tình, danh vọng, thân thế ... không những trong quá khứ và hiện tại, mà còn trong tương lai nữa, thì việc nghiên cứu đơn thuần bàn tay sẽ đưa đến sự sai lạc hoàn toàn .
Nói một cách khác, muốn tìm hiểu cuộc đời của một người trong bàn tay, nếu chỉ xem 2 bàn tay suông chưa đủ mà phải áp dụng sự dung hoà về mọi mặt
1 - vóc dáng
2 - diện mạo
3 - bàn tay
4 - cử chỉ
5 - tiếng nói
Từng ấy yếu tố kết hợp lại mới xét đoán đầy đủ giá trị ghi sẵn trong 2 bàn tay, nhứt là bàn tay bạn gái lại càng cần thiết hơn.
THÂN THỂ
Nghiên cứu về thân thể, chúng ta có đối tượng rõ rệt giữa nam và nữ . Người nam bẩm sinh thân trên vuông lớn, thân dưới nhỏ; người nữ thân trên nhỏ, thân dưới tròn lớn .
Ở người nữ, dạ dưới to hơn ở người nam và khum về phía trước, thắt lưngtrở thành eo.
Ở người nữ, đùi dài hơn người nam nhưng chân ngắn hơn người nam.
Về người mập, chúng ta để ý như thế này: Người nam mập phần trên như cổ, ót, vai, bụng trên. Người nữ mập phần dưới: háng nở, bụng xệ, mông vàđùi tròn .
Về người ốm cũng vậy: Người nam ốm ở cổ, ngực và tay. Người nữ thì xương háng lồi lên, vế và bắp chân teo lại .
Biết qua những điểm đặc biệt về thể chất của 2 phái nam và nữ, chúng ta tìm hiểu về cá tánh riêng biệt của 2 phái về mọi phương diện, nó sẽ tùy theo vóc dáng, bộ phận trong thân thể, và cũng tùy hình thức mập ốm mà có những cá tánh đặc biệt, dĩ nhiên khác nhau. Chúng ta có những chiết tính sau đây về cá tánh mỗi người:
- Người tác lớn cân đối: tánh chậm nhưng cương nghị .
- Người tác lớn không cân đối: tánh chậm và nhu nhược .
- Người tác trung cân đối: tánh sống động và tích cực . - Người tác trung không cân đối: tánhsống động như tiêu cực .
- Người tác nhỏ cân đối: linh hoạt mau mắn .
- Người tác nhỏ không cân đối: tánh nóng nảy, dễ xúc động nhưng mau nguội .
- Người tác lớn mập: chậm chạp thiếuý chí .
- Người tác lớn, tròn trịa: hoạt độ;ngđúng mức nhưng không liên tục .
- Ngước tác lớn, ốm: không bền chí .
- Người tác trung, mập: hoạt động đúng mức nhưng mau bỏ cuộc .
- Người tác trung, tròn trịa: sống động, bình tĩnh .
- Người tác trung, ốm: thật hoạt động nhưng không bền chí .
- Người tác nhỏ, mập: linh hoạt, trung trực .
- Người tác nhỏ, tròn trịa: linh hoạt, trầm tĩnh .
- Người tác nhỏ, ốm: linh hoạt, nóng nảy, dễ xúc động .
- Người có thắt lưng cao: phát triển về thực tế, có nữ tánh .
- Người có thắt lưng thấp: phát triển về tinh thần, có nam tánh .
- Người có ngang lớn: có khả năng thực hiện .
- Người có ngang nhỏ: thiếu khả năng thực hiện .
- Người có ót nở, vai rộng: cường tráng, giàu nghị lực .
- Người có ót hẹp, vai ốm: không thích hoạt động, hay mơ .
- Người có ngực nở phần trên: ham thực hiện .
- Người có ngực nở phần dưới: ham hoạt động .
- Người có ngực nhỏ hơn bụng: trầm mặc .
- Người có ngực hẹp và ốm: suy tư .
- Người có bụng bằng, thịt săn: ham thực hiện .
- Người có bụng thẳng, nhiều thịt: ham hoạt động .
- Người có bụng to: trầm mặc .
- Người có bụng nhão: suy tư.
- Người có xương chân hẹp: nam tính.
- Người có xương chân rộng: nữ tính .
- Người có đùi dài: nữ tính .
- Người có đùi ngắn: nam tính .
Trên đây là cá tánh tổng quát nghiên cứu theo hình thức vóc dáng, lần lượtchúng ta tìm hiểu về cá tánh của người tùy từng bộ phận riêng rẻ, dĩ nhiên là bộ phận bên ngoài như đầu, mặt, trán, chân mày, mắt, mũi, gò má, miệng, cằm, hàm, tai, cổ, tóc, màu da và sau cùng mới đến bàn tay là điểm chánh trong phần nghiên cứu về cuộc đời của người con gái, hay người nữ hiện diện trong bàn tay.
Chúng ta khởi sự bằng sự nghiên cứu về cá tánh của người qua hình thức của mỗi thứ đầu . ĐẦU
Nghiên cứu về đầu, chúng ta phải nghiên cứu 2 phần chánh diện tức là nhìn trước mặt và bình diện tức nhìn nghiêng.
Về chánh diện, chúng ta có những cá tánh sau đây, tùy theo mỗi hình thức:
- Đầu rộng, quá mức bình thường (nghĩa là 2 bên xương tai gồ ra): giàunăng lực, rộng xã giao.
- Đầu hẹp: thiếu năng lực, không hoạt bát .
- Đầu hình trái lê: trầm mặc .
- Đầu trái xoan: tánh tình hay thay đổi .
- Đầu vuông hay chữ nhựt: ham thực hiện, có khả năng.
- Đầu hình tam giác: suy tư.
- Đầu có những nét béo, mỡ: nặng nề,ham vật chất .
- Đầu có những nét tròn hay trái xoan: dịu dàng, dễ cảm, nữ tánh .
- Đầu có những nét gân guốc: nam tính .
- Đầu có những góc cạnh: dễ xúc động, nóng nảy .
Về trắc diện, nghĩa là nhìn nghiêng, chúng ta có những cá tánh sau đây:
- Phần trên nảy nở: nghiêng về tinh thần, chú trộng về thần bí, duy tâm.
- Phần dưới nảy nở: chú trọng về thể xác, duy vật .
- Phần trước nảy nở: nghiêng về hoạt động, có ý chí chinh phục .
- Phần sau nảy nở: nghiêng về thụ động, có ý chí tự vệ .
- Phần trước, ở trên nảy nở: trí thức, chủ động .
- Phần sau, ở trên nảy nở: trí thức, thụ hưởng .
- Phần trước, ở dưới nảy nở: có khả năng hoạt động về thể xác .
- Phần sau, ở dưới nảy nở: thực tế, nhưng thụ động .
MẶT
Đây là phần có thể được xem là trọng yếu vì đặt ra là con người, xấu rốt, sang hèn, cao thượng hay đê tiện đều do mặt và tay mà ra, nếu xét đoán về hình thức .
Có câu: "trông mặt đặt lòng". Nghĩa là chỉ xem qua gương mặt cũng có thể đoán được phần nào lòng dạ con người .
Nói như thế có nghĩa là mặt giữ một phần tối yếu trong con người . Đối với bàn tay, mặt có một giá trị về bên ngoài, bàn tay có giá trị bên trong, cũng như một trái cây, vỏ và ruột hay tình thần vật chất cũng thế .
Nghiên cứu về mặt, chúng ta có 4 thểthức phân chia khuôn mặt thành 4 phần nổi bật: 1- Khuôn mặt có phần hàm lớn hơn, tượng trưng cho bản tính tự nhiên.
2- Khuôn mặt có phần gu, tức phần giữa lấn hơn, tượng trưng cho bản tính đa cảm .
3- Khuôn mặt có phần trán lấn hơn, tượng trưng cho đời sống tinh thần .
4- Khuôn mặt cân xứng về các phần, tượng trưng cho sự hoà hoãn, quân bình cuộc sống .
Cũng có những phần lớn hơn, bản tánhcàng bộc lộ rõ rệt hơn. Thường thường ở người bạn gái, huôn mặt luôn nhỏ và có những nét lấn rất ít trông thấy, nhưng cành lớn tuổi nhữngnét ấy càng thấy rõ hơn.
TRÁN
Chúng ta khởi đầu bằng việc nghiên cứu phần trên của trán, vì đó là phần quan trọng, có thể nói đó là sự phân biệt giữa người và vật .
Dĩ nhiên một chiếc trán thấp là 1 hình thức tượng trưng sự kém về thông minh, thiếu ý chí và tất cả, có nghĩa là khiếm khuyết về mặt tinh thần .
Về phương diện giá trị, chúng ta có những giá trị tổng quát như sau:
- Trán to và rộng tượng trưng cho sự nảy nở và khả năng tinh thần, thụ cảm.
- Trán nhỏ và hẹp tượng trưng cho tríóc hẹp hòi, cừng đầu, có óc phe đảng.
- Trán thấp tượng trưng cho sự ham muốn .
- Trán cao và bằng: dễ xúc cảm, giàu tưởng tượng, lãn mạn .
- Trán tròn: mơ mộng, mềm dịu, dễ thụ cảm .
- Trán chữ nhật: thông minh, thực tế và có quy tắc .
- Trán bằng: thông minh tầm thường .
- Trán vồ: thông minh, hoạt động, thực hiện .
- Trán vuông có cạnh: chặt dạ, thiếu cảm giác .
- Trán vuốt: nghiêng về thần bí, mộngảo .
- Trán có chiều nghiêng đưa ra: cứng đầu, có thái độ trẻ con, ương ngạnh, ngoan cố .
- Trán có chiều nghiêng hơi xiên: thông minh chững chạc .
- Trán trợt: có óc thực tế nhanh trí, giàu tưởng tượng, nhiều ham muốn .
- Trán trợt và tròn: dễ tin dị đoan, nhiều mê tín .
Cũng như khuôn mặt, nghiên cứu về trán chúng ta có thể chia vầng trán thành 3 khu vực để tìm hiểu chính xác về ý nghĩa của từng khu vực . Ba khu vực đó là: